Kết nối với chúng tôi:

Thế giới

5 ngày căng thẳng đẩy Ấn Độ – Pakistan bên bờ vực chiến tranh

Đã đăng

 ngày

Căng thẳng ở biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan tuần này đã đẩy hai đối thủ sở hữu hạt nhân ở Nam Á đến gần bờ vực xung đột hơn bất cứ lúc nào trong hai thập niên.

Căng thẳng ở biên giới giữa Ấn Độ và Pakistan tuần này đã đẩy hai đối thủ sở hữu hạt nhân ở Nam Á đến gần bờ vực xung đột hơn bất cứ lúc nào trong hai thập niên.

Ấn Độ và Pakistan là hai quốc gia láng giềng luôn trong tình trạng căng thẳng do yếu tố lịch sử. Anh rút khỏi thuộc địa Ấn Độ vào năm 1947, dẫn đến việc nơi này chia tách thành hai quốc gia: Ấn Độ – nơi đa số người theo đạo Hindu sinh sống và Pakistan – nơi đa số người Hồi giáo sinh sống.

Ấn Độ, Pakistan và Trung Quốc có tranh chấp lãnh thổ xoay quanh vùng Kashmir. Ấn Độ kiểm soát khoảng 43% diện tích khu vực, Pakistan khoảng 37% trong khi Trung Quốc kiểm soát 20%.

Kashmir từng là tâm điểm của ba cuộc chiến tranh Ấn Độ – Pakistan. Cuộc đụng độ lớn gần đây nhất là vào năm 1999, khiến hàng nghìn người thương vong.

Nguồn cơn của căng thẳng bùng phát trong tuần này là vụ đánh bom tự sát ngày 14/2 khiến 44 binh sĩ chết ở vùng Kashmir do Ấn Độ quản lý. Phiến quân Jaish-e-Mohammed tại Pakistan nhận trách nhiệm.

Khu vực các bên kiểm soát tại Kashimir. Đồ họa: CNN.

Khu vực các bên kiểm soát tại Kashimir. Đồ họa: CNN.

Để đáp trả vụ đánh bom, máy bay Ấn Độ sáng 26/2 vượt qua Đường Kiểm soát, biên giới thực tế giữa Ấn Độ và Pakistan tại Kashmir, để không kích các địa điểm được cho là trại huấn luyện khủng bố Jaish-e-Mohammed.

Đây là lần đầu tiên Ấn Độ sử dụng sử dụng không lực trên đất Pakistan kể từ chiến tranh năm 1971. Islamabad tức giận, tuyên bố sẽ trả đũa. Ngày 27/2, Pakistan cho biết họ đã bắn hạ hai máy bay Ấn Độ, một chiếc rơi xuống khu vực Kashmir do Pakistan kiểm soát trong khi máy bay còn lại rơi xuống phía Ấn Độ. Họ bắt được một phi công.

Ấn Độ xác nhận họ mất một máy bay và tuyên bố đã bắn hạ một tiêm kích của Pakistan. Họ yêu cầu Pakistan bàn giao phi công.

Kênh truyền hình NDTV của Ấn Độ tiết lộ trận không chiến dữ dội trên bầu trời khu vực tranh chấp Kashmir có sự tham gia của 8 tiêm kích Ấn Độ và 24 chiến đấu cơ Pakistan.

Cuộc khủng hoảng làm dấy lên báo động trên toàn thế giới vì Ấn Độ và Pakistan đều là hai quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân. Nhiều người lo ngại về nguy nổ ra chiến tranh toàn diện.

Ấn Độ có lực lượng vũ trang thông thường mạnh hơn nhiều Pakistan, nhưng hai bên có kho vũ khí hạt nhân tương đương. Pakistan sở hữu 140-150 đầu đạn hạt nhân trong khi Ấn Độ có 130-140, theo báo cáo năm 2018 của Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI).

Tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo Ấn Độ INS Arihant đã đi vào hoạt động năm ngoái, giúp cho nước này có đủ “bộ ba hạt nhân”, tức là có khả năng tiến hành các cuộc tấn công từ mặt đất, trên không và trên biển.

Pakistan đang phát triển tên lửa hành trình phóng từ biển để hoàn thành bộ ba của mình. Họ sở hữu vũ khí hạt nhân tầm xa hơn Ấn Độ, bao gồm tên lửa Shaheen 3 có thể vươn tới quần đảo Andamn của Ấn Độ gần Đông Nam Á, theo Reuters.

Ấn Độ tuân theo chính sách không tấn công phủ đầu mà chỉ sử dụng vũ khí hạt nhân trong trường hợp cần một cuộc tấn công trả đũa mạnh đến mức đối thủ không thể đánh trả.

Trong khi đó, Pakistan không tuyên bố áp dụng chính sách này và có rất ít thông tin về học thuyết hạt nhân của họ.

“Cả hai bên đều có khả năng gây tổn thương cho bên kia, điều đó có nghĩa là một cuộc xung đột hạt nhân ở Nam Á sẽ có hậu quả khủng khiếp”, Ankit Panda, chuyên gia từ Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ tại Washington DC nói. “Họ có thể nhắm mục tiêu vào các trung tâm đô thị trọng yếu của nhau”.

Nhiều cường quốc thúc giục Ấn Độ và Pakistan kiềm chế để tránh xảy ra xung đột. Tại Hà Nội, Tổng thống Mỹ Trump ngày 28/2 cho biết ông đã tham gia tìm cách hạ nhiệt căng thẳng.

Một người giơ ảnh phi công Abhinandan Varthaman để chào đón anh này về nước ngày 2/3. Ảnh: AFP

Một người giơ ảnh phi công Abhinandan Varthaman để chào đón anh này về nước ngày 2/3. Ảnh: AFP

Bản thân hai bên cũng tìm cách giảm nguy cơ xảy ra chiến tranh. Thủ tướng Pakistan Imran Khan và Ngoại trưởng Ấn Độ Sushma Swaraj đều tuyên bố họ không muốn leo thang tình hình.

Ngày 1/3, Pakistan thả tự do cho phi công Ấn Độ Abhinandan Varthaman. Bộ Ngoại giao Pakistan cho biết Varthaman được đối xử phù hợp với luật pháp quốc tế và việc phóng thích anh này là “cử chỉ hòa bình”.

Giới chuyên gia đánh giá đây là động thái giảm căng thẳng hiệu quả, tuy nhiên, tương lai phía trước vẫn là điều bất định vì giữa hai nước còn tồn tại nhiều mâu thuẫn.

“Hy vọng vụ thả phi công Amitabh Varthaman sẽ tạo ra lực đẩy có tác dụng lâu dài trong việc đảm bảo hòa bình”, Amitabh Mattoo giáo sư tại Đại học New Delhi Jawaharlal Nehru nhận xét. “Nhưng không thể nói trước được điều gì, chúng ta phải chờ xem”.

VnExpress

Nhấn vào đây để bình luận

Leave a Reply

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Thế giới

Cựu quan chức Mỹ kể cuộc gặp bí mật với Soleimani

Đã đăng

 ngày

Bởi

Trong những ngày hỗn loạn sau vụ khủng bố 11/9, Ryan Crocker, quan chức ngoại giao cấp cao Mỹ khi đó, đã bay tới Geneva và gặp tướng Iran Soleimani.

“Tôi khởi hành vào thứ sáu và trở về ngay chủ nhật nên không ai trong văn phòng biết tôi đã ở đâu”, Crocker kể lại chuyến đi bí mật tới Geneva, Thụy Sĩ hồi năm 2001 để gặp một nhóm quan chức Iran, trong đó có Qassem Soleimani, tư lệnh đặc nhiệm Quds thuộc Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC). “Chúng tôi đã thức suốt đêm trong những cuộc họp đó”.

Soleimani thiệt mạng hôm 3/1 trong vụ không kích của Mỹ bên ngoài sân bay Baghdad ở Iraq. Tuy nhiên, cũng giống nhiều người ở Trung Đông, quan hệ giữa Mỹ với Soleimani khá phức tạp và không phải lúc nào thiếu tướng Iran cũng ở bên kia chiến tuyến.

Tướng Iran Qasem Soleimani tại thủ đô Tehran hồi tháng 9/2013. Ảnh: AFP.
Tướng Iran Qasem Soleimani tại thủ đô Tehran hồi tháng 9/2013. Ảnh: AFP.

Nhà báo Dexter Filkins của New Yorker hồi năm 2013 cho biết từng có khoảng thời gian Mỹ và Iran thậm chí nuôi hy vọng thành lập liên minh tại Afghanistan sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 ở New York. Soleimani, người đứng đầu lực lượng Quds tinh nhuệ, đã được giao trọng trách thảo luận với phía Washington.

Washington và Tehran cắt đứt quan hệ ngoại giao từ năm 1980 sau vụ khủng hoảng con tin, nhưng Crocker không quá bất ngờ về cách cư xử khéo léo, linh hoạt của Soleimani. “Bạn không thể vượt qua nhiều năm chiến tranh tàn khốc mà không trở nên khôn ngoan”, cựu quan chức cho hay.

Nhóm quan chức Iran gọi Soleimani là “Haji Qassem”. Trong quá trình thảo luận, có những lúc Soleimani phải gửi lời nhắn tới Crocker, nhưng ông luôn tránh để lộ bất cứ dòng chữ viết tay nào. “Haji Qassem quá thông minh. Ông ấy sẽ không cho người Mỹ nắm được dấu vết của mình”, Crocker nhận xét.

Theo lời kể của Crocker, phía Tehran bày tỏ sẵn sàng hợp tác với Washington để tiêu diệt kẻ thù chung là nhóm phiến quân Taliban, sau đó hai bên chia sẻ thông tin. Crocker nhận được một bản đồ chi tiết các địa điểm của Taliban. Đáp lại, ông tiết lộ với Iran vị trí một cố vấn cho nhóm phiến quân al-Qaeda, người mà sau đó nhanh chóng bị Tehran bắt.

Crocker cho biết nhà đàm phán mà ông làm việc cùng nói rằng “Haji Qassem rất hài lòng với sự hợp tác giữa hai bên”. Tuy nhiên, tình hình nhanh chóng xoay chiều. Bất chấp quá trình hợp tác đang diễn ra, cựu tổng thống Mỹ George W. Bush trong bài phát biểu nổi tiếng hồi tháng 1/2002 gọi Iran, Iraq và Triều Tiên là “trục ma quỷ”.

Cựu quan chức Mỹ cho rằng sự gán mác đó đã chấm dứt mọi thứ. Một ngày sau bài phát biểu, ông gặp lại người đàm phán phía Iran tại tòa nhà của Liên Hợp Quốc ở Kabul, Afghanistan. “Các ông làm tôi bị tổn hại hoàn toàn. Soleimani đang trong cơn thịnh nộ. Ông ấy cảm thấy bị đả kích”, Crocker dẫn lại lời đối tác, nói thêm rằng người này vô cùng tức giận.

Người đàm phán cho biết phát ngôn của Tổng thống Bush khi đó để lại nguy cơ rủi ro rất lớn về chính trị. “Có lẽ đã đến lúc suy nghĩ lại mối quan hệ của chúng ta với người Mỹ”, người đàm phán dẫn lại lời Soleimani.

Khái niệm “trục ma quỷ” khiến các cuộc họp giữa phái đoàn Mỹ – Iran phải kết thúc. Những người ủng hộ cải cách và thúc đẩy hợp tác với Mỹ trong chính phủ Iran cũng trở nên yếu thế. “Chúng tôi đã tiến rất gần tới đích. Chỉ một cụm từ trong bài phát biểu đã thay đổi lịch sử”, Crocker lắc đầu hồi tưởng lại.

Quan hệ hai nước thậm chí căng thẳng hơn sau khi Mỹ mở chiến dịch quân sự tại Iraq vào năm 2003, từ chối đề nghị đàm phán của Iran, đồng thời ra tay bảo vệ Mujahedeen Khalq, nhóm đối lập ủng hộ lật đổ chính phủ Iran, được cố tổng thống Iraq Saddam Hussein hậu thuẫn. Tướng Soleimani từ đó trở thành kẻ thù trong mắt Washington.

Trong cuộc phỏng vấn hồi năm 2013, Crocker kể lại một lần liên lạc gián tiếp khác với Soleimani vào tháng 4/2008, khi cựu thủ tướng Iraq Nouri al-Maliki phát động cuộc tấn công quân nổi dậy ở miền nam nước này.

“Sau vài ngày tình hình vô cùng dữ dội, Maliki đã thắng thế nhờ sự hỗ trợ của chúng tôi. Điều đó khiến rất nhiều người Iran lo ngại, trong đó có Soleimani. Ông ấy đã đề nghị họp với Tổng thống Iraq Jalal Talabani và Phó tổng thống Adel Abdul Mahdi”, Crocker nói.

Cựu quan chức Mỹ cho biết phía Iran cũng mời ông và cựu tướng David Petraeus, khi đó là chỉ huy lực lượng liên quân Mỹ tại Iraq, dùng bữa tối và chuyển thông điệp của Soleimani. “Động thái của Soleimani cho thấy cuộc tấn công của Maliki khiến ông ấy bối rối và không chắc điều gì sẽ xảy ra tiếp theo”, Crocker nhận xét.

Theo nhà báo Filkins, trong khoảng thời gian đó, Soleimani, người được coi là quyền lực thứ hai Iran sau lãnh tụ tối cao Ayatollah Ali Khamenei, đã tiếp cận một số quan chức cấp cao Mỹ và gửi nhiều thông điệp. Hồi đầu năm 2008, cố tổng thống Iraq Talabani đưa cho Petraeus chiếc điện thoại chứa tin nhắn của Soleimani.

“Gửi Tướng Petraeus, ông nên biết rằng tôi, Qassem Soleimani, kiểm soát chính sách của Iran với sự tôn trọng dành cho Iraq, Lebanon, Gaza và Afghanistan. Trên thực tế, đại sứ Iran ở Baghdad là một thành viên lực lượng Quds. Cá nhân thay thế ông ấy cũng sẽ nằm trong lực lượng này”, tin nhắn có đoạn.

Sau vụ 5 lính Mỹ thiệt mạng tại Karbala, Iraq, Soleimani cũng gửi thông điệp tới đại sứ Mỹ. “Tôi thề trên mộ của cố lãnh tụ Khomeini rằng tôi không ra lệnh cho bất cứ phát súng nào nhằm vào người Mỹ”, tướng Iran cho hay. Tuy nhiên, không có người Mỹ nào tin lời ông.

Filkins cho biết dù Petraeus chỉ trích Soleimani “thực sự tàn ác”, có những thời điểm hai người này buộc phải thương lượng với nhau. Các tài liệu ngoại giao bị WikiLeaks phát tán cho thấy Petraeus từng liên lạc với Soleimani thông qua các lãnh đạo Iraq, giúp thỏa thuận ngừng bắn giữa lực lượng của giáo sĩ Shiite cực đoan Moqtada al-Sadr và chính phủ Iraq thân Mỹ được bảo đảm.

Lợi ích của Washington và Tehran một lần nữa phù hợp với nhau khi phiến quân Nhà nước Hồi giáo (IS), kẻ thù chung của cả hai nước, nổi dậy ở Iraq và Syria. Lực lượng dân quân được Iran hậu thuẫn, dẫn đầu là Soleimani, đã góp công đẩy lùi IS tại Iraq, một phần vì nhóm Hồi giáo dòng Sunni cực đoan này là mối đe dọa với Iran, nơi dòng Shiite chiếm đa số. Thêm vào đó, Iran muốn duy trì ảnh hưởng tại Iraq trong tương lai.

Tuy nhiên, việc Trump hồi năm 2018 rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran, thành quả đàm phán suốt 15 năm giữa Tehran với 6 cường quốc, đồng thời tăng cường các lệnh trừng phạt, khiến căng thẳng giữa hai nước một lần nữa bùng phát. Một loạt sự cố làm leo thang tình hình vào năm ngoái đã dẫn tới kết cục là cái chết của Soleimani hôm 3/1.

Ánh Ngọc (Theo Washington Post) – Vnexpress

Đọc tiếp

Thế giới

‘Trại tử thần’ Đức Quốc xã được phơi bày thế nào?

Đã đăng

 ngày

Bởi

Hình ảnh quân Đồng minh ghi lại khi giải phóng “trại tử thần” Đức Quốc xã cuối Thế chiến II phơi bày sự thật về thảm họa diệt chủng Holocaust.

Trại tập trung và hành quyết lần lượt được giải phóng khi quân Đồng minh tiến vào Berlin, Đức trong những ngày cuối cuộc chiến 1939-1945. Trại đầu tiên được giải phóng là Majdanek ở phía đông Ba Lan ngày 24/7/1944 bởi Hồng quân Liên Xô. Nhưng chỉ đến năm sau, chính phủ lâm thời do Tướng Charles De Gaulle thành lập sau cách mạng Pháp mới khuyến khích việc đưa tin.

Tù nhân còn lại sau khi trại Buchenwald ở Đức được giải phóng thang 4/1945. Ảnh: AFP.
Tù nhân còn lại sau khi trại Buchenwald ở Đức được giải phóng thang 4/1945. Ảnh: AFP.

Tháng 7/1944, khi Đức thất thế trong cuộc chiến, lãnh đạo Đức Quốc xã Heinrich Himmler yêu cầu sơ tán trại trước khi quân Đồng minh tới và chuyển tù nhân tới nhiều trại khác. Kế hoạch sơ tán này tập trung chủ yếu vào trại ở các nước vùng Baltic, nơi gần hướng tiến công của Hồng quân Liên Xô. Sĩ quan của lực lượng Schutzstaffel (SS hay lực lượng quân áo đen) chịu trách nhiệm xóa hết mọi dấu vết tội ác trước khi chạy trốn.

Khu trại Auschwitz – Birkenau ở miền nam Ba Lan do Hồng quân Liên Xô giải phóng ngày 27/1/1945 từng bước được dỡ bỏ từ giữa năm 1944 và hơn 60.000 tu nhân được sơ tán. Khi quân Xô viết tới, còn 7.000 tù nhân ở lại vì không thể đi theo trong cuộc sơ tán được gọi “Diễu hành thây ma” tới các trại khác.

Việc phát hiện những “trại tử thần” đầu tiên không gây sự chú ý lớn đối với công chúng do hình ảnh không được chia sẻ rộng rãi. Nhà điều tra Nga và Ba Lan đã chụp ảnh trại ở Majdanek và Auschwitz, trong khi nhiếp ảnh gia của quân đội Mỹ làm phim tài liệu về trại ở Struthof, trại tập trung duy nhất của Đức Quốc xã được đặt ở địa phận nước Pháp hiện giờ. Nhưng Pháp không muốn phát sóng phim tài liệu này nhằm tránh kích động nhiều gia đình có người thân mất tích sau khi bị trục xuất, bị bắt hoặc bị kết án.

Bước ngoặt đến vào 6/4/1945 với phát hiện về Ohrdruf, trại sáp nhập thuộc trại tập trung Buchenwald ở Đức. Khi quân Mỹ tiến vào Ohrdruf, cùng phóng viên chiến trường Mỹ Meyer Levin và nhiếp ảnh gia AFP Eric Schwab, họ phát hiện nhà ngục vẫn còn rực lửa và nhiều tù nhân gầy trơ xương bị hành quyết với phát đạn vào đầu.

Tư lệnh tối cao của Lực lượng Đồng minh ở châu Âu Dwight Eisenhower ngày 12/4 tới thăm trại và mô tả về “điều kiện kinh hoàng không thể diễn tả” của nơi này. Lãnh đạo quân Đồng minh lập tức quyết định dỡ bỏ mọi hạn chế để công bố bằng chứng tội ác của Đức Quốc xã với thế giới.

Tối hôm đó, nhật báo Cộng sản Pháp Ce Soir đã đăng trên trang nhất hình ảnh về “trại tử thần” Đức Quốc xã. Vài ngày sau, Eisenhower khuyên nhà báo nên ghé thăm các trại, nơi “bằng chứng về sự man rợ và tàn bạo vượt quá sức chịu đựng đến mức xóa đi mọi nghi ngờ về hành động thường thấy của Đức Quốc xã”. 

Du khách đi qua hàng rào dây thép gai vào thăm trại Auschwitz ở Đức tháng 12/2019. Ảnh: AFP.
Du khách đi qua hàng rào dây thép gai vào thăm trại Auschwitz ở Đức tháng 12/2019. Ảnh: AFP.

                                                                             Thanh Tâm (Theo AFP)

Đọc tiếp

Thế giới

Hải quân Mỹ cần thêm tiền đóng tàu chiến

Đã đăng

 ngày

Bởi

Đô đốc Gilday nói hải quân Mỹ cần nhiều tiền để phát triển công nghệ và hoàn thành kế hoạch sở hữu hạm đội 355 tàu chiến.

“Nói ngắn gọn, chúng tôi cần thêm tiền. Chính phủ nhất trí rằng hải quân Mỹ phải phát triển. Chúng ta phải theo đuổi các công nghệ không người lái, cần giải quyết các khó khăn về công nghệ và chính sách liên quan thay vì tránh né”, đô đốc Michael Gilday, tham mưu trưởng hải quân Mỹ, nói tại hội nghị chuyên đề của Hiệp hội Hải quân Mỹ ngày 14/1 tại Arlington, bang Virginia.

Tuyên bố được đô đốc Gilday đưa ra trong bối cảnh Nhà Trắng sắp trình quốc hội Mỹ đề xuất ngân sách quốc phòng 2021 với mức 740 tỷ USD. Các lãnh đạo hải quân Mỹ tuần tới sẽ đưa ra đánh giá cấu trúc lực lượng mới, trong đó đề xuất tăng quy mô hạm đội từ 293 tàu hiện nay lên 355 tàu chiến vào năm 2030.

Mỹ quyết định tăng cường hạm đội hải quân để đối phó với tham vọng phát triển hạm đội của Trung Quốc. Hải quân Trung Quốc dự kiến biên chế thêm 6 chiến hạm vào tháng 12, nâng tổng số tàu chiến của nước này lên 300 chiếc.

Nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan trong một cuộc diễn tập năm 2018. Ảnh: US Navy.
Nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan trong một cuộc diễn tập năm 2018. Ảnh: US Navy.

Gidlay cho biết trọng tâm chính của hải quân Mỹ là đóng các tàu ngầm hạt nhân lớp Columbia để thay thế lớp Ohio. Đề án chế tạo tàu ngầm lớp Columbia hiện chiếm 20-25% ngân sách chế tạo chiến hạm của hải quân Mỹ và có thể tăng lên 30% trong năm 2020.

“Chúng tôi muốn hải quân lớn hơn nhưng không phải thứ hữu danh vô thực. Có những lựa chọn khó khăn song yêu cầu mở rộng hạm đội lên 335 chiến hạm hoặc hơn đòi hỏi tăng ưu tiên ngân sách cho hải quân”, Gilday nói.

Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ hồi tháng 5/2017 thông báo kế hoạch tăng số chiến hạm của hải quân lên 355 chiếc. Số tàu bổ sung gồm một hàng không mẫu hạm, 16 tuần dương hạm và khu trục hạm, 18 tàu ngầm tấn công, 7 tàu đổ bộ và 12 tàu hậu cần hỗ trợ. Hải quân Mỹ sẽ phải mua 329 tàu trong 30 năm tới và tốn 102 tỷ USD mỗi năm cho kế hoạch mở rộng hạm đội.

Nguyễn Tiến (Theo Sputnik, Defense One) – Vnexpress

Đọc tiếp

Trending